Hotline (028) 35 11 33 33 Cấp Cứu (028) 35 11 35 00 Ngoại Thần kinh và Cột sống Can thiệp nội mạch Hotline (028) 35 11 33 33 Cấp Cứu (028) 35 11 35 00 Ngoại Thần kinh và Cột sống Phẫu thuật thần kinh can thiệp nội mạch Còn được gọi là Điện quang Can thiệp Thần kinh, Phẫu thuật Thần kinh Can thiệp Nội mạch là một chuyên khoa sâu của phẫu thuật thần kinh. Các bác sĩ phẫu thuật thần kinh can thiệp nội mạch sử dụng ống thông và tia X để chẩn đoán và điều trị các tình trạng và bệnh lý khác nhau của hệ thần kinh trung ương. Chụp mạch máu não Chụp mạch máu não là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh thần kinh chuyên biệt sử dụng thuốc tương phản có chứa i-ốt để cung cấp hình ảnh chi tiết, theo thời gian thực về dòng chảy của máu bên trong hệ thống mạch máu não. Kỹ thuật này tạo điều kiện cho việc xác định chính xác các bất thường mạch máu, bao gồm phình mạch máu não, dị dạng động tĩnh mạch (AVMs), u mạch máu, và các nguyên nhân tiềm ẩn của đột quỵ.Nhờ độ phân giải không gian vượt trội và khả năng chẩn đoán hình ảnh động, chụp mạch máu não đóng vai trò trung tâm trong việc chẩn đoán sớm và cung cấp thông tin cho chiến lược điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân. Chụp mạch máu tủy sống Chụp mạch máu tủy sống là một thủ thuật cung cấp sự đánh giá chi tiết cao, theo thời gian thực về các mạch máu cung cấp cho và bao quanh tủy sống. Kỹ thuật này tạo ra hình ảnh huyết động học chính xác, có thể tiết lộ các bất thường mạch máu mà các phương thức chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn không thể nhìn thấy. Chụp mạch máu tủy sống có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chẩn đoán các tình trạng mạch máu cột sống, bao gồm dị dạng động tĩnh mạch cột sống (AVMs), rò động tĩnh mạch màng cứng (DAVFs), và một số nguyên nhân hiếm gặp gây nhồi máu tủy sống. Bằng cách mô tả chính xác cấu trúc mạch máu và động lực dòng chảy, kỹ thuật này giúp định hướng kế hoạch điều trị tối ưu, đồng thời cải thiện độ chính xác và an toàn của các can thiệp tiếp theo. Phình mạch máu não Phình mạch máu não là một sự giãn khu trú bất thường của thành động mạch, phát sinh tại một vị trí suy yếu về cấu trúc, khiến bệnh nhân đối mặt với nguy cơ xuất huyết nếu túi phình bị vỡ. Việc túi phình bị vỡ gây ra xuất huyết dưới nhện và là nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ xuất huyết.Mục tiêu chính của việc điều trị là làm tắc túi phình và loại bỏ nguy cơ chảy máu. Điều này có thể đạt được thông qua hai phương pháp tiếp cận chính. Kẹp phẫu thuật: Thủ thuật mở hộp sọ được thực hiện, và kẹp titan được đặt trực tiếp ngang qua cổ túi phình để loại bỏ nó vĩnh viễn khỏi tuần hoàn não. Can thiệp nội mạch bằng vòng xoắn kim loại: Một ống thông được dẫn qua hệ thống động mạch đến vị trí phình mạch, từ đó các vòng xoắn kim loại cực nhỏ bằng bạch kim được đặt vào trong túi phình. Các vòng xoắn này thúc đẩy quá trình hình thành huyết khối bên trong túi phình, giúp bịt kín túi phình khỏi dòng tuần hoàn mà không cần phẫu thuật hở. Phương pháp này đặc biệt có lợi cho những bệnh nhân có tình trạng bệnh lý quá phức tạp, không đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện phẫu thuật mở hộp sọ. Đối với các túi phình mạch máu não có cổ rộng hoặc đáy rộng, các kỹ thuật nội mạch tiên tiến hơn có thể được sử dụng, bao gồm đặt vòng xoắn kim loại có bóng hỗ trợ, đặt vòng xoắn kim loại có stent hỗ trợ, hoặc đặt stent/giá đỡ đổi hướng dòng chảy (một thiết bị dạng lưới mịn giúp chuyển hướng dòng máu ra khỏi túi phình và thúc đẩy quá trình hình thành huyết khối tiến triển bên trong túi). Dị dạng động tĩnh mạch Dị dạng động tĩnh mạch (AVM) là một búi mạch máu bất thường, nơi máu động mạch chảy trực tiếp vào hệ thống tĩnh mạch, từ đó bỏ qua mạng lưới mao mạch thông thường. Ở một người khỏe mạnh, máu động mạch giàu oxy, di chuyển dưới áp lực cao, đi qua mạng lưới mao mạch nhỏ để cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho mô não, sau đó đổ vào hệ thống tĩnh mạch với áp lực thấp hơn và trở về tim, phổi.Trong một khối dị dạng AVM, chu trình bình thường này không tồn tại: máu động mạch đổ trực tiếp vào hệ thống tĩnh mạch dưới áp lực cao. Theo thời gian, các mạch máu bất thường này giãn ra và thành mạch trở nên mỏng hơn, khiến chúng trở nên yếu và dễ bị vỡ và gây xuất huyết.Các dị dạng động tĩnh mạch (AVM) có thể biểu hiện với các triệu chứng như đau đầu, yếu người, liệt, rối loạn thị giác hoặc co giật. Nhiều bệnh nhân lần đầu tiên gặp phải các triệu chứng tại thời điểm xảy ra xuất huyết từ một trong các mạch máu cấu thành khối AVM.Các dị dạng động tĩnh mạch (AVM) có thể được điều trị thông qua ba phương thức chính: Gây tắc mạch nội mạch Vi phẫu cắt bỏ hở Xạ phẫu định vị Tại FV, thủ thuật gây tắc mạch nội mạch được thực hiện bằng cách sử dụng các vật liệu gây tắc mạch chuyên dụng để làm bít các thông nối động tĩnh mạch bất thường, với mục tiêu làm giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn khối AVM. Trong một số trường hợp cụ thể, kỹ thuật này có thể mang lại hiệu quả điều trị triệt để, hoặc có thể đóng vai trò là bước chuẩn bị trước khi tiến hành vi phẫu hoặc xạ phẫu để tối ưu hóa tính an toàn và hiệu quả của các giai đoạn điều trị tiếp theo. Rò động tĩnh mạch màng cứng Rò động tĩnh mạch màng cứng (DAVF) là tình trạng các mạch máu có sự kết nối bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch được tìm thấy trong lớp màng bao bọc não. Lớp màng này được gọi là màng cứng, đó cũng là nguồn gốc của tên gọi này. Có sự kết nối trực tiếp giữa động mạch và tĩnh mạch mà không có bất kỳ mạch máu trung gian nào ở giữa.Các lỗ rò hoặc kết nối bất thường này thường phát triển theo thời gian và có thể xuất hiện sau chấn thương, nhiễm trùng hoặc do huyết khối (tình trạng hình thành cục máu đông) trong tĩnh mạch màng cứng. Lỗ rò có thể gây ra những tiếng động bất thường trong đầu do lưu lượng máu chảy cao. Tình trạng này cũng có thể gây đau đầu hoặc dẫn đến xuất huyết não.Việc điều trị tương tự như các phương pháp dành cho dị dạng động tĩnh mạch (AVM) và có thể bao gồm gây tắc mạch, phẫu thuật, và trong một số trường hợp là xạ phẫu. Gây tắc mạch thường được sử dụng như liệu pháp chính để điều trị tình trạng này. Thủ thuật gây tắc mạch được thực hiện bằng cách đặt một ống thông cực nhỏ trực tiếp vào lỗ rò tĩnh mạch màng cứng (DAVF). Sau đó, vật liệu gây tắc mạch được bơm vào mạch máu để bịt kín chúng. Vật liệu này khi rời khỏi ống thông ở dạng lỏng sẽ đông đặc lại bên trong mạch máu của khối DAVF để làm tắc lỗ rò. Đôi khi, các vòng xoắn kim loại cũng được sử dụng để bít kín khối DAVF. Hẹp động mạch cảnh Xơ vữa động mạch là tình trạng xơ cứng các động mạch có thể dẫn đến hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch. Tình trạng này có thể xảy ra ở bất kỳ động mạch nào trong cơ thể. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến sự phát triển của xơ vữa động mạch bao gồm: huyết áp cao, cholesterol cao, tiểu đường, hút thuốc, béo phì và khuynh hướng di truyền.Khi một bác sĩ phẫu thuật thần kinh nội mạch tham gia vào việc điều trị vấn đề này, quy trình sẽ tập trung vào các động mạch lớn dẫn đến não (động mạch cảnh hoặc động mạch đốt sống) hoặc các động mạch nằm bên trong đầu (động mạch nội sọ).Xơ vữa các động mạch cảnh thường gây ra các cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIAs) vì lưu lượng máu có thể bị giảm đến mức một phần não tạm thời không hoạt động bình thường. Các triệu chứng điển hình có thể bao gồm yếu hoặc tê ở một bên cơ thể, không thể nói hoặc hiểu lời nói, và thay đổi thị lực. Nếu lưu lượng máu chỉ giảm trong một thời gian ngắn, sẽ xảy ra cơn TIA, nhưng nếu sự gián đoạn đủ lâu, sẽ xảy ra cơn đột quỵ.Điều trị bằng thuốc có thể được khuyến cáo nếu tình trạng hẹp mạch máu không nghiêm trọng. Nếu tình trạng hẹp nặng hơn, bác sĩ có thể khuyến nghị phẫu thuật hoặc liệu pháp nội mạch. Phẫu thuật bao gồm việc mở động mạch và loại bỏ mảng xơ vữa đang gây hẹp lòng mạch đó.Liệu pháp nội mạch bao gồm việc sử dụng bóng hoặc giá đỡ (stent) để mở rộng thành động mạch từ bên trong. Tại động mạch cảnh, một giá đỡ thường được đặt vào để mở rộng vị trí hẹp. Trước tiên, bác sĩ đặt một thiết bị giống như chiếc ô phía sau đoạn bị hẹp để hứng các mảnh vụn có thể bong ra khi đặt stent/giá đỡ. Sau khi giá đỡ đã được định vị, thiết bị hình ô này sẽ được đóng lại và đưa ra khỏi động mạch. Bóc tách động mạch cảnh và động mạch đốt sống Có bốn động mạch chính cung cấp lưu lượng máu đến não. Hai động mạch cảnh và hai động mạch đốt sống. Bạn có thể cảm nhận được nhịp đập của các động mạch cảnh ở hai bên vùng cổ dưới, ngay dưới góc hàm. Các động mạch đốt sống nằm ở phía sau cổ, gần cột sống và không thể cảm nhận được qua thăm khám thực thể thông thường.Thành động mạch được cấu tạo từ ba lớp mô khác nhau, mỗi lớp có một chức năng cụ thể. Tình trạng bóc tách xảy ra khi một vết rách ở thành động mạch khiến máu thấm vào giữa các lớp này và đẩy chúng tách rời nhau.Đôi khi đột quỵ là dấu hiệu đầu tiên của tình trạng bóc tách động mạch vùng cổ và cần phải điều trị cấp cứu ngay lập tức. Tuy nhiên, phổ biến hơn là các triệu chứng tiến triển trong vài giờ hoặc vài ngày, ngay cả ở những bệnh nhân bị chấn thương. Các triệu chứng này thường mang tính tổng quát thay vì đặc hiệu, bao gồm: đau đầu, đau cổ và mặt (đặc biệt là đau quanh mắt), rối loạn thị giác như nhìn đôi hoặc sụp mí mắt, tiếng “ù ù” theo nhịp đập trong tai, được gọi là chứng ù tai dạng mạch đập, hoặc giảm vị giác đột ngột và/hoặc yếu một bên cơ thể.Đột quỵ có thể tiến triển sau vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí một tuần kể từ khi các triệu chứng này xuất hiện. Đây là nguy cơ nghiêm trọng nhất của tình trạng bóc tách động mạch vùng cổ.Nong mạch bằng bóng (sửa chữa đoạn động mạch bị bóc tách bằng cách bơm phồng một loại bóng chuyên dụng) hoặc đặt stent (một thiết bị dạng lưới giúp giữ cho động mạch luôn mở rộng) là hai thủ thuật nội mạch được sử dụng để điều trị bóc tách động mạch vùng cổ. Hai kỹ thuật này thường được phối hợp thực hiện cùng nhau để mang lại hiệu quả điều trị lâu dài nhất. Rò động mạch cảnh xoang hang Rò động mạch cảnh xoang hang (CCF) là một dạng rò màng cứng cụ thể, xảy ra giữa động mạch cảnh (hoặc các nhánh của nó) và một tĩnh mạch lớn nằm sau mắt (xoang hang). Những lỗ rò này có thể xuất hiện do chấn thương, do túi phình động mạch cảnh bị vỡ gây ra sự thông nối, hoặc cũng có thể xảy ra tự phát mà không có nguyên nhân rõ ràng.Các triệu chứng có thể bao gồm đau mắt, sưng và đỏ mắt, nhìn đôi hoặc mất thị lực nếu không được điều trị. Những lỗ rò này thường được điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch, bằng cách đặt một ống thông vào động mạch hoặc tĩnh mạch, sau đó sử dụng các vật liệu để bịt kín sự thông nối giữa động mạch và tĩnh mạch. Các vật liệu này có thể bao gồm bóng, vòng xoắn kim loại và keo sinh học dạng lỏng. Dị dạng tĩnh mạch Galen Dị dạng tĩnh mạch Galen là một sự thông nối bẩm sinh giữa các động mạch và tĩnh mạch. Trong trường hợp này, sự thông nối xảy ra cụ thể giữa một nhóm các động mạch sâu trong não được gọi là động mạch màng mạch và một tĩnh mạch sâu nằm ở đường giữa, gọi là tĩnh mạch Galen. Dị dạng tĩnh mạch Galen thường biểu hiện các triệu chứng ở giai đoạn sơ sinh hoặc thời thơ ấu. Ở trẻ sơ sinh, những triệu chứng này có thể bao gồm suy tim sung huyết. Các triệu chứng có thể xuất hiện muộn hơn đôi chút trong thời thơ ấu, khi đó trẻ có thể biểu hiện tình trạng kích thước đầu to (tật đầu to) hoặc chậm phát triển thần kinh nhận thức. Nhìn chung, việc điều trị bệnh lý này phụ thuộc vào kích thước của khối dị dạng tĩnh mạch Galen và các triệu chứng mà bệnh nhân gặp phải. Liệu pháp nội mạch thường là phương pháp điều trị chủ chốt. Thủ thuật này thường bao gồm gây tắc mạch, thường sử dụng vật liệu gây tắc mạch dạng lỏng (keo sinh học) hoặc các vòng xoắn kim loại bằng bạch kim để giúp làm bịt kín (lấp đầy) các điểm thông nối bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch. Chẩn đoán Hình ảnh & Điện quang Can thiệp Bạn đang cân nhắc hướng điều trị? Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và đặt lịch hẹn Đặt lịch hẹn